fbpx

TIỂU SỬ GEORGE FRIDERIC HANDEL (1685 – 1759)

Sinh năm 1685 tại Hamburg (Đức) song từ năm 1712 chuyển sang sinh sống ở London (Anh) và từ năm 1727 trở thành công dân Anh nên từ hơn hai trăm năm nay, cả hai quốc gia Đức – Anh đều suy tôn Handel là nhạc sĩ vĩ đại của nước mình.

Mặc dù sinh ra không phải trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, thậm chí còn “kị” âm nhạc, nhưng với năng khiếu bẩm sinh, năm 12 tuổi lại được chọn làm phụ tá cho một vị nhạc trưởng của Thánh Đường Halle, sau đó được nhận vào học trường âm nhạc ở Hamburg, khả năng của Handel càng có cơ phát lộ. Đặc biệt, năm 21 tuổi, qua Ý và được tiếp xúc với nhiều nhân vật kỳ tài về âm nhạc ở xứ sở này, Handel đã có những bước trưởng thành vượt bậc.

Trong thời gian tu nghiệp tại Ý, một trong những trung tâm âm nhạc châu Âu thời ấy, nghệ sĩ trẻ Handel đã chịu ảnh hưởng nhiều bởi âm nhạc Baroque và trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của thời kỳ âm nhạc Baroque. Baroque trong tiếng Pháp được dùng để chỉ một kiểu kiến trúc và trang trí theo model châu Âu thời ấy, đặc biệt là ở Ý. Với các nhà viết lịch sử âm nhạc, họ dùng cách gọi này để chỉ một thời kỳ âm nhạc đã bắt đầu trở nên tinh xảo, chuyên nghiệp. Nói “thời kỳ Baroque” đồng nghĩa với việc nói tới một thời kỳ hoàng kim trong âm nhạc. Những năm tháng này, Handel đã tung hoành sáng tác cho nhiều thể loại thanh nhạc, trong đó đáng kể nhất là opera và oratorio, những thể loại mà ông sáng tác suốt đời và đã để lại được một số kiệt tác.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Luật, Handel có chuyến thăm Anh. Tại đây, ông nhận được sự chào đón nồng nhiệt. Nhờ viết được một vở opera cho Nữ hoàng Anh trong vẻn vẹn 14 ngày, Handel được Nữ hoàng quý trọng và có những chế độ biệt đãi. Chính cách xử sự ấy đã khiến sau khi về Đức, hai năm sau Handel quyết định trở lại nước Anh tạm cư và 15 năm sau thì ông trở thành công dân Anh thứ thiệt. Trong vòng 15 năm sống ở Anh, Handel đã khởi lập ba công ty opera thương mại nhằm cung ứng âm nhạc opera Ý cho giới quý tộc Anh. Nhưng rồi ông phát hiện ra, công chúng mua vé vào xem không phải vì họ muốn thưởng thức âm nhạc đích thực mà chỉ để tụ tập đùa vui và để nhìn ngắm, bình luận về các ca sĩ. Từ năm 1836, Handel bắt đầu sáng tác những bản hợp xướng tiếng Anh. Và sau thành công với vở nhạc kịch “Messiah” (Đấng Cứu Thế, 1842) thì Hamdel không bao giờ trình diễn nhạc opera Ý nữa mà tập trung làm nhạc tiếng Anh thuần túy.

Di sản âm nhạc mà Handel để lại khá đồ sộ. Theo những gì người ta thống kê được thì sinh thời, Handel đã sáng tác hơn 42 vở opera, 20 bản oratorio, hơn 120 bản cantata, tam tấu và song tấu, nhiều bản aria, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo, 16 bản concerto organ…trong đó, nổi tiếng nhất vẫn là vở nhạc kịch “Messiah” – một trong những bài Thánh Ca nổi tiếng mà chúng ta thường nghe trong mùa Giáng Sinh. Các trích đoạn từ vở nhạc kịch này như hợp xướng “Halleluja”, “I know that my Redeemer liveth”… thường xuyên được biểu diễn như những tác phẩm độc lập. Các nhà nghiên cứu âm nhạc đã không hề quá lời khi nhận định rằng, trong hơn 250 năm qua, không năm nào là không có ít nhất một lần tác phẩm này được trình diễn trong bầu không khí trang trọng.

Xin được kể đôi chút về quá trình Handel sáng tác nên vở nhạc kịch bất hủ này: Có thể nói, sau khi bị đột quị vào năm 1837, Handel trở nên quan tâm nhiều hơn đến đề tài tôn giáo. Đặc biệt, từ năm 1840, khi Handel bước sang tuổi 55, ông dành thời giờ nhiều cho việc sáng tác các bản Thánh ca.

Thời kỳ này, cuộc sống của Handel rất túng bấn. Ông mắc nợ như Chúa Chổm, phải thường xuyên đối phó với các chủ nợ. Đã thế, bệnh khớp dai dẳng khiến tâm trạng của ông ngày càng u ám. Mùa hè năm 1741, Handel qua chơi Dublin, thủ đô của Ireland theo lời mời của Quận công xứ Devenshire. Một đêm nọ, quá chán chường thất vọng, nhạc sĩ đi lang thang suốt đêm trên các con phố vắng. Đến sáng, khi trở về căn phòng tồi tàn của mình, ông thấy trên bàn xuất hiện một phong thư dày. Thì ra, đó là thư của một người Anh tên gọi Charles Jennens gửi đến. Thư không có nội dung ngoài một xấp giấy viết kín những câu trích trong Kinh Thánh, cốt để những người không tin vào thần tính của Chúa Jesus thấy rằng Chúa Jesus là con của Đức Chúa Trời, rằng Ngài chính là Đấng Cứu Thế của nhân loại, là vị “vua của muôn vua” trước sau sẽ trở lại trần gian.

Mặc dù quá mệt mỏi sau chuyến lang thang đi bộ suốt đêm, song đến khi lên giường nằm rồi, không hiểu sao những dòng chữ trong cuốn Kinh Thánh mà ông Charles Jennens trích gửi ông cứ như hiện rõ mồn một trước mắt Handel, ám ảnh tâm trí người nhạc sĩ. Những câu: “Đức Chúa Trời phán: Hãy an ủi, hãy an ủi dân ta… Dân đi trong nơi tối tăm đã nhìn thấy ánh sáng lớn…Vì có một Con Trẻ đã sinh ra cho chúng ta… Sáng Danh Thiên Chúa trên các từng trời rất cao… Ha-lê-lu-gia! Ha-lê-lu-gia! …” cứ văng vẳng trong ông. Handel ngồi dậy, bước ra khỏi giường, tới bên chiếc đàn dương cầm. Một dòng nhạc hào sảng cứ miên man chảy mãi, chảy mãi…khiến ông không thể ngừng tay bút. Ông viết cả ngày lẫn đêm, có lúc quên cả ăn uống, nghỉ ngơi, từ chối tiếp bất kỳ vị khách nào. Cứ vậy, trong suốt 23 ngày sáng tác như lên đồng, Handel đã hoàn tất vở nhạc kịch vĩ đại. Bản thảo gốc của vở nhạc kịch hiện vẫn còn được lưu giữ: Nó nhòe nhoẹt đầy vết mực.

Vở nhạc kịch gồm ba phần. Phần thứ nhất mô tả sự giáng trần của Chúa Cứu Thế. Phần thứ hai nói đến sự hy sinh của Ngài để cứu rỗi nhân loại và phần cuối nói về sự “sống lại” của Chúa khi Ngài trở lại trần gian để làm vua. Tác phẩm này được gọi là “Messiah” – một trong những danh hiệu của Chúa Cứu Thế.

Vở nhạc kịch “Messiah” được công diễn lần đầu tiên vào năm 1742 tại Dublin, sau đó tại London. Trái với sự thành công đáng kể ở Dublin, khán thính giả ở London tỏ ra hờ hững với “Messiah”. Tới năm 1850, vở nhạc kịch được tổ chức công diễn nhằm gây quỹ cho Bệnh viện Foundling và buổi biểu diễn thực sự thành công. Kể từ đây, tiếng tăm của “Messiah” ngày một thêm lan tỏa. Từ đó cho tới khi Handel qua đời, mỗi năm bệnh viện này đều tổ chức công diễn “Messiah” một lần. Trước khi tạ thế, tác giả của “Messiah” đã viết di chúc nói ông để lại một bản chép tay vở nhạc kịch tặng cho Bệnh viện Foundling.

Tháng 8 năm 1750, trên chuyến xe ngựa từ Hà Lan về Anh, Handel đã bị chấn thương nặng sau một vụ tai nạn. Năm 1851, ông gần như sống trong cảnh mù lòa. Thiên tài âm nhạc George Frideric Handel đã qua đời ngày 14/4/1759, hưởng thọ 74 tuổi. Tang lễ của ông được cử hành trọng thể, với sự tham dự của hơn ba ngàn người. Thi hài ông được an táng tại Điện Westminster, là nơi được dành cho các bậc vua chúa, vĩ nhân của nước Anh.

Sinh thời, Handel chưa một lần kết hôn. Cuộc sống riêng tư ít được ông hé lộ cùng ai. Trước khi mất, ông viết di chúc dành phần lớn tài sản cho người cháu gái Johanna, phần còn lại cho một số thành viên trong họ hàng và một phần nữa cho bạn hữu và các tổ chức từ thiện.

George Frideric Handel được ghi nhận là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của mọi thời đại. Ông được các nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ nể trọng. Chuyện kể rằng, khi đến Halle, Bach chỉ có một ước muốn tìm gặp Handel, nhưng không thành công. Thiên tài âm nhạc Mozart thì nhận xét: “Handel hiểu biết cách khơi mở cảm xúc tốt hơn hết thảy chúng ta. Một khi chọn đúng thời điểm, tác động của ông mạnh như sấm sét”. Còn nhạc sĩ vĩ đại Beethoven thì luôn coi Handel là bậc thầy: “Ông là bậc thầy của tất cả chúng ta, là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất. Tôi phải ngả mũ cúi chào và cúi quỳ trước phần mộ ông”

Tiến Thành

http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Thien-tai-am-nhac-George-Frideric-Handel—Niem-tu-hao-cua-hai-quoc-gia-330924/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *